Liên kết website
Chính phủ
Các bộ, ngành ở TW
Tỉnh ủy, UBND tỉnh
Sở, ban, ngành
UBND huyện, thị xã
LUẬT CƠ QUAN ĐẠI DIỆN NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Ở NƯỚC NGOÀI - SỬA ĐỔI, BỔ SUNG NĂM 2017
Ngày cập nhật 29/03/2018

Thực hiện Nghị quyết số 22/2016/QH14 ngày 29 tháng 7 năm 2016 của Quốc hội về điều chỉnh Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2016 và Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2017, Thủ tướng Chính phủ đã giao Bộ Ngoại giao chủ trì, phối hợp với các cơ quan, tổ chức liên quan tiến hành soạn thảo dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Cơ quan đại diện nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ở nước ngoài năm 2009 (Luật Cơ quan đại diện – CQĐD) để trình Quốc hội xem xét, thông qua tại kỳ họp thứ 4 khoá XIV. 

Ngày 21/11/2017, Quốc hội thông qua Luật số 19/2017/QH14 - Luật Cơ quan đại diện nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ở nước ngoài sửa đổi 2017. Theo đó, bổ sung chế độ hỗ trợ dành cho thành viên, vợ (chồng) và con chưa thành niên đi theo thành viên Cơ quan đại diện nước CHXHCN Việt Nam ở nước ngoài (cơ quan đại diện); bổ sung tiêu chuẩn đối với Đại sứ đặc mệnh toàn quyền là người đứng đầu Cơ quan đại diện nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ở nước ngoài. Luật số 19/2017/QH14 có hiệu lực từ ngày 01/7/2018.

I. SỰ CẦN THIẾT SỬA ĐỔI, BỔ SUNG LUẬT CƠ QUAN ĐẠI DIỆN

Luật CQĐD gồm 6 chương, 36 điều được Quốc hội khoá XII, kỳ họp thứ 5 thông qua ngày 18/6/2009, có hiệu lực thi hành từ ngày 02/9/2009, bãi bỏ Pháp lệnh Lãnh sự năm 1990 và Pháp lệnh Cơ quan đại diện nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1993. Việc ban hành Luật CQĐD có ý nghĩa quan trọng, tạo hành lang pháp lý và điều kiện thuận lợi để các CQĐD thực hiện chức năng đại diện chính thức của Nhà nước Việt Nam tại quốc gia và tổ chức quốc tế tiếp nhận, triển khai thực hiện hiệu quả các nhiệm vụ trên tất cả các lĩnh vực chính trị, an ninh, quốc phòng, kinh tế, văn hoá, lãnh sự, công tác cộng đồng, thống nhất quản lý hoạt động đối ngoại. Luật CQĐD xác định rõ hơn về tổ chức bộ máy, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của CQĐD cũng như cơ chế phối hợp công tác giữa các CQĐD trên cùng một địa bàn, giữa cơ quan trong nước và CQĐD, qua đó tăng cường hiệu quả hoạt động của CQĐD và việc triển khai thực hiện các chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà nước tại quốc gia, tổ chức quốc tế tiếp nhận.

Bên cạnh những kết quả đạt được, sau 07 năm thi hành, Luật CQĐD đã phát sinh yêu cầu sửa đổi, bổ sung nhằm thể chế hoá chủ trương, đường lối của Đảng, Hiến pháp năm 2013 và khắc phục hạn chế, bất cập nhằm nâng cao hơn nữa hiệu quả hoạt động đối ngoại, thực hiện thành công các phương hướng, nhiệm vụ của ngành đối ngoại trong tình hình mới. Cụ thể như sau:

Thứ nhất, Hiến pháp năm 2013 quy định về việc bổ nhiệm, miễn nhiệm Đại sứ đặc mệnh toàn quyền, theo đó, Ủy ban thường vụ Quốc hội phê chuẩn đề nghị bổ nhiệm, miễn nhiệm đại sứ đặc mệnh toàn quyền theo đề nghị của Thủ tướng Chính phủ; căn cứ Nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội, Chủ tịch nước bổ nhiệm, miễn nhiệm đại sứ đặc mệnh toàn quyền (khoản 12 Điều 74 và khoản 6 Điều 88). Dự thảo Luật cần bổ sung, làm rõ trình tự bổ nhiệm, miễn nhiệm Đại sứ đặc mệnh toàn quyền để đảm bảo thể chế hoá quy định của Hiến pháp năm 2013. Bên cạnh đó, để tạo cơ sở cho các cơ quan có thẩm quyền xem xét, quyết định trong quá trình bổ nhiệm, cần thiết quy định cụ thể các tiêu chuẩn riêng đối với Đại sứ đặc mệnh toàn quyền.

Thứ hai, Báo cáo chính trị Đại hội Đảng lần thứ XII đặt ra phương hướng, nhiệm vụ đối ngoại trong giai đoạn tiếp theo là nâng cao hiệu quả hoạt động đối ngoại, đẩy mạnh và làm sâu sắc quan hệ với các nước đối tác lớn, quan trọng, đưa quan hệ đã xác lập đi vào thực chất. Để thực hiện thành công các nhiệm vụ đối ngoại trong giai đoạn mới, cần có giải pháp để tranh thủ, chọn lựa được những cán bộ ngoại giao có uy tín, bề dày kinh nghiệm để bổ nhiệm làm Đại sứ đặc mệnh toàn quyền, đóng góp xứng đáng vào công tác đối ngoại, đồng thời, tăng cường hiện diện ngoại giao của Việt Nam tại các nước chưa thành lập CQĐD.

Đại sứ đặc mệnh toàn quyền có tư duy tầm chiến lược, kinh nghiệm, uy tín cao sẽ có ưu thế lớn khi hoạt động đối ngoại tại nước sở tại, sinh hoạt trong đoàn ngoại giao, có thể có những đóng góp quan trọng trong triển khai thực hiện các chính sách đối ngoại của Việt Nam. Tuy nhiên, có nhiều trường hợp cán bộ đã tích luỹ nhiều kinh nghiệm, đáp ứng các yêu cầu nêu trên song đã quá độ tuổi để bổ nhiệm một nhiệm kỳ công tác 03 năm. Trước đây, Bộ Ngoại giao đã kiến nghị và được các cơ quan của Đảng, Chủ tịch nước, Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ chấp thuận bổ nhiệm một số trường hợp này. Các Đại sứ đặc mệnh toàn quyền sau khi được bổ nhiệm đã đóng góp đáng kể vào thúc đẩy quan hệ giữa Việt Nam và nước sở tại, củng cố bộ máy, tổ chức và phát huy vai trò của CQĐD. Tuy nhiên, do đây là các trường hợp vận dụng linh hoạt nên các cơ quan liên quan đề nghị Bộ Ngoại giao kiến nghị cơ quan có thẩm quyền luật hoá để có cơ sở pháp lý triển khai. Vì vậy, dự thảo Luật cần nghiên cứu bổ sung quy định cho phép bổ nhiệm Đại sứ đã quá tuổi bổ nhiệm trong một số trường hợp đặc biệt để thực hiện yêu cầu đối ngoại, lựa chọn được những cán bộ xứng tầm, có năng lực và bề dày kinh nghiệm, đóng góp vào nâng cao vị thế của Việt Nam.

Bên cạnh giải pháp về con người, nhằm đáp ứng yêu cầu tăng cường hiện diện ngoại giao của Việt Nam tại các nước trong điều kiện kinh tế - xã hội của đất nước, cần bổ sung quy định về cơ chế Đại sứ đặt tại Việt Nam, phụ trách quan hệ với các nước mà không thành lập CQĐD. Cho đến nay, Việt Nam đã thiết lập quan hệ ngoại giao với 186 nước, song cơ quan đại diện ngoại giao mới được thành lập tại 71 nước; đối với 115 quốc gia còn lại, có 44 người đứng đầu các cơ quan đại diện tại quốc gia khác được cử kiêm nhiệm theo quy định tại Điều 20 của Luật CQĐD. Trong một số trường hợp, cơ chế Đại sứ kiêm nhiệm không phát huy hiệu quả do số lượng nước kiêm nhiệm nhiều trong khi CQĐD được tổ chức theo mô hình nhỏ gọn, đặc biệt ở khu vực Châu Phi. Có trường hợp nước được kiêm nhiệm không có cơ quan đại diện ngoại giao tại nước kiêm nhiệm, dẫn đến khó khăn trong liên lạc, xử lý công việc.

Có trường hợp một số nước Mỹ La tinh không chấp thuận việc CQĐD tại quốc gia lân cận kiêm nhiệm nên CQĐD ở Châu Âu phải kiêm nhiệm, hiệu quả không cao. Theo kinh nghiệm của một số nước như Singapore, In-đô-nê-xi-a, Thuỵ Điển, San Marino, các nước bổ nhiệm cán bộ, công chức thường trú ở trong nước làm Đại sứ, phụ trách quan hệ song phương.

Thứ ba, tổng kết quá trình thực hiện Luật CQĐD trong 7 năm vừa qua cho thấy một số hạn chế, chưa phù hợp của Luật CQĐD, cần được sửa đổi, bổ sung. Cụ thể như sau:

- Một số quy định về nhiệm vụ chứng nhận lãnh sự, hợp pháp hoá lãnh sự, xuất nhập cảnh của cơ quan đại diện được quy định quá chi tiết, không còn phù hợp với pháp luật chuyên ngành. Nhiệm vụ về tiếp nhận đơn và chứng cứ liên quan của công dân Việt Nam để chuyển cho cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam xem xét giải quyết cũng không phù hợp với quy định của Bộ luật tố tụng hình sự, Bộ luật tố tụng dân sự.

- Nhiệm vụ về quản lý thống nhất hoạt động thông tin đối ngoại là một trong các nhiệm vụ quan trọng của CQĐD, góp phần nâng cao sự hiểu biết của các nước và bạn bè thế giới về tình hình, chủ trương, chính sách của Việt Nam và tạo sự ủng hộ rộng rãi đối với Việt Nam. Nội hàm của nhiệm vụ này đã được quy định rải rác tại các điều 5, 6, 7 và 9 Luật CQĐD. Tuy nhiên, nhiệm vụ này có tính chất bao quát, bổ trợ và được lồng ghép vào tất cả các nhiệm vụ khác, nên cần thiết bổ sung một quy định riêng về nhiệm vụ thông tin đối ngoại.

- Quyết định 272-QĐ/TW của Bộ Chính trị ban hành Quy chế quản lý thống nhất các hoạt động đối ngoại và Hướng dẫn 01 của Ban Đối ngoại Trung ương yêu cầu cơ quan đại diện định kỳ gửi báo cáo về các đoàn đi công tác nước ngoài tại địa bàn phụ trách về Uỷ ban Đối ngoại Quốc hội, Ban Đối ngoại Trung ương và Bộ Ngoại giao. Do đó, cần thiết bổ sung quy định nhằm thể chế hoá quy định của Đảng về quản lý thống nhất hoạt động đối ngoại, đồng thời nhằm tăng cường hiệu quả quản lý các đoàn đi công tác nước ngoài.

- Mặt bằng các chế độ, chính sách cho thành viên CQĐD và thành viên gia đình chưa đảm bảo đời sống của cán bộ, nhân viên các CQĐD ta ở nước ngoài, còn thấp so với mặt bằng chung của các nước trong khu vực có trình độ phát triển tương tự, chưa thực sự phản ánh được sự tiến bộ, phát triển của đất nước trong tương quan với các nước ASEAN khác. Để bảo đảm phù hợp với yêu cầu công tác đối ngoại trong tình hình mới, tương xứng với vai trò, vị thế của CQĐD, cần thiết bổ sung chế độ, chính sách cho thành viên CQĐD và thành viên gia đình, trên cơ sở cân đối điều kiện kinh tế, ngân sách của Nhà nước.

Từ những lý do trên, việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật CQĐD là nhu cầu cấp thiết, nhằm triển khai thực hiện Hiến pháp năm 2013, thể chế hoá và triển khai thực hiện hiệu quả đường lối, chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà nước trong giai đoạn mới, khắc phục các hạn chế, vướng mắc trong quá trình thực hiện.

II. MỤC TIÊU, QUAN ĐIỂM CHỈ ĐẠO XÂY DỰNG DỰ ÁN LUẬT

Dự thảo Luật được xây dựng trên cơ sở những mục tiêu, quan điểm và những yêu cầu cơ bản sau đây:

Một là, đảm bảo sự lãnh đạo thống nhất của Đảng, sự quản lý tập trung của Nhà nước đối với các hoạt động đối ngoại; đảm bảo thể chế hoá các chủ trương, đường lối của Đảng về quản lý thống nhất các hoạt động đối ngoại, triển khai thực hiện các quy định mới của Hiến pháp năm 2013.

Hai là, nâng cao hiệu quả các hoạt động đối ngoại, phát huy các nguồn lực và sức mạnh tổng hợp của đất nước, đẩy mạnh và làm sâu sắc hơn quan hệ hợp tác với các quốc gia, tổ chức quốc tế tiếp nhận, góp phần nâng cao vị thế, uy tín của đất nước tại quốc gia, tổ chức quốc tế tiếp nhận.

Ba là, tăng cường nguồn lực và và các bảo đảm về chế độ, chính sách cho thành viên CQĐD, phù hợp với vị thế, điều kiện kinh tế của đất nước.

Bốn là, khắc phục các vướng mắc, bất cập của Luật CQĐD; kế thừa những quy định còn phù hợp; đảm bảo sự thống nhất, đồng bộ của hệ thống pháp luật; phù hợp với luật pháp quốc tế và có tham khảo thực tiễn của các nước trên thế giới và trong khu vực.

III. QUÁ TRÌNH THỰC HIỆN DỰ ÁN LUẬT

Theo quy trình xây dựng luật quy định tại Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật, Bộ Ngoại giao đã thành lập Ban soạn thảo, Tổ biên tập dự án Luật tại Quyết định số 4027/QĐ-BNG ngày 14/11/2016, gồm đại diện các cơ quan: Ban Đối ngoại Trung ương Đảng, Ủy ban Đối ngoại Quốc hội, Văn phòng Chủ tịch nước, Văn phòng Chính phủ, các Bộ: Nội vụ, Công an, Quốc phòng, Công Thương, Khoa học và Công nghệ, Lao động – Thương binh và Xã hội, Tài chính, Kế hoạch và Đầu tư, Tư pháp, Giáo dục và Đào tạo và một số đơn vị thuộc Bộ Ngoại giao. Ban soạn thảo đã tiến hành một số hoạt động như:

- Tổ chức tổng kết tình hình 7 năm thực hiện Luật CQĐD, đánh giá yêu cầu và các nội dung chính cần sửa đổi, bổ sung.

- Tổ chức một số phiên họp toàn thể Ban soạn thảo, Tổ biên tập để xin ý kiến của Ban soạn thảo về chủ trương, định hướng lớn của dự án Luật và ý kiến cụ thể đối với hồ sơ dự án Luật.

- Sưu tầm, dịch văn bản pháp luật của các nước và các tài liệu liên quan đến kinh nghiệm thực tiễn các nước trong quản lý CQĐD.

- Tổ chức nghiên cứu, tìm hiểu kinh nghiệm, thực tiễn của các nước thông qua hệ thống CQĐD của Việt Nam ở nước ngoài và tổ chức 01 đoàn khảo sát liên ngành tại một số CQĐD thuộc các quy mô và ở các địa bàn khác nhau.

- Đánh giá tác động của dự án Luật.

- Đăng tải hồ sơ dự án Luật trên Cổng thông tin điện tử của Chính phủ và của Bộ Ngoại giao trong thời gian 60 ngày để xin ý kiến của cơ quan, tổ chức, người dân.

IV. NHỮNG NỘI DUNG SỬA ĐỔI, BỔ SUNG

Điều 1. Sửa đi, bổ sung một số điều của Luật Cơ quan đại diện nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ở nước ngoài

1. Bãi bỏ khoản 10 Điều 8; sửa đổi, bổ sung các khoản 4, 5, 7, 8, 13 và 15 Điều 8 như sau:

“4. Cấp, gia hạn, sửa đổi, bổ sung, hủy bỏ hộ chiếu, giấy thông hành và giấy tờ khác có giá trị xuất cảnh, nhập cảnh Việt Nam phù hợp với quy định của pháp luật.

5. Cấp, bổ sung, hủy bỏ thị thực; cấp, thu hồi, hủy bỏ giấy miễn thị thực của Việt Nam phù hợp với quy định của pháp luật.”

“7. Thực hiện nhiệm vụ công chứng, chứng thực phù hợp với quy định của pháp luật Việt Nam và điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và quốc gia tiếp nhận là thành viên; tiếp nhận, bảo quản giấy tờ, tài liệu và đồ vật có giá trị của công dân, pháp nhân Việt Nam khi có yêu cầu phù hợp với quy định của pháp luật Việt Nam và không trái với pháp luật của quốc gia tiếp nhận.

8. Hợp pháp hóa lãnh sự giấy tờ, tài liệu của nước ngoài và chứng nhận lãnh sự giấy tờ, tài liệu của Việt Nam phù hợp với quy định của pháp luật.”

“13. Thực hiện ủy thác tư pháp phù hợp với quy định của pháp luật Việt Nam và điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.”

“15. Phối hợp thực hiện nhiệm vụ liên quan đến phòng dịch, kiểm dịch động vật, thực vật phù hợp với quy định của pháp luật Việt Nam, pháp luật của quốc gia tiếp nhận, điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và quốc gia tiếp nhận là thành viên, phù hợp với pháp luật và thông lệ quốc tế.”

2. Bổ sung khoản 1a vào sau khoản 1 Điều 10 như sau:

“1a. Thống nhất quản lý hoạt động thông tin đối ngoại và chủ trì, phối hợp với cơ quan có liên quan đề xuất, triển khai hoạt động thông tin đối ngoại tại quốc gia, tổ chức quốc tế tiếp nhận.”

3. Sửa đổi, bổ sung điểm b khoản 2 Điều 15 như sau:

“b) Kinh phí hoạt động thường xuyên được cấp cho Bộ Ngoại giao để phân bổ cho cơ quan đại diện, trừ kinh phí dành cho lĩnh vực quốc phòng, an ninh và thương mại theo quy định của Chính phủ;”

4. Bổ sung khoản 3 vào Điều 16 như sau:

“3. Việc quản lý dự án đầu tư xây dựng của cơ quan đại diện được thực hiện như sau:

a) Việc quản lý, sử dụng vốn đầu tư công cho dự án đầu tư xây dựng của cơ quan đại diện phải tuân thủ quy định của pháp luật về đầu tư công. Trong trường hợp cần thiết, việc lập, thẩm định, quyết định chủ trương đầu tư và dự án đầu tư có thể được thực hiện theo trình tự, thủ tục rút gọn;

b) Việc triển khai dự án đầu tư xây dựng của cơ quan đại diện được áp dụng theo điều ước quốc tế, thỏa thuận giữa Việt Nam với quốc gia tiếp nhận, pháp luật của quốc gia tiếp nhận, pháp luật Việt Nam;

c) Nguồn kinh phí thực hiện dự án đầu tư xây dựng do ngân sách nhà nước cấp và các nguồn kinh phí hợp pháp khác theo quy định của pháp luật.

Chính phủ quy định chi tiết khoản này.”

5. Sửa đổi, bổ sung Điều 17 như sau:

“Điều 17. Tiêu chuẩn thành viên cơ quan đại diện

1. Thành viên cơ quan đại diện đáp ứng các tiêu chuẩn sau đây:

a) Là cán bộ, công chức, viên chức, người lao động theo quy định của pháp luật, trừ trường hợp là nhân viên hợp đồng quy định tại Điều 29 của Luật này;

b) Có đủ tiêu chuẩn, trình độ chính trị, chuyên môn, nghiệp vụ, ngoại ngữ và kinh nghiệm phù hợp với yêu cầu công tác theo quy định của Bộ trưởng Bộ Ngoại giao trên cơ sở đề án tổng thể được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt.

2. Đại sứ đặc mệnh toàn quyền đáp ứng các tiêu chuẩn quy định tại khoản 1 Điều này và các tiêu chuẩn sau đây:

a) Tuyệt đối trung thành với Tổ quốc và Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; có phẩm chất đạo đức tốt, bản lĩnh chính trị vững vàng, bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc;

b) Có trình độ đại học trở lên; có trình độ lý luận chính trị cử nhân hoặc cao cấp; đã được đào tạo, bồi dưỡng về kiến thức, chuyên môn, nghiệp vụ đối ngoại; sử dụng thông thạo ít nhất một ngoại ngữ phù hợp với yêu cầu công tác;

c) Nắm vững và có năng lực tham mưu, chỉ đạo, tổ chức thực hiện hiệu quả chủ trương, đường lối, chính sách đối ngoại của Nhà nước; có năng lực tổng hợp, phân tích và dự báo; có năng lực tổ chức, điều hành, tập hợp, đoàn kết nội bộ và phối hợp với các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan thực hiện tốt nhiệm vụ được giao; có kinh nghiệm quản lý, công tác trong lĩnh vực đối ngoại; đã có thời gian giữ chức vụ phó vụ trưởng hoặc tương đương trở lên;

d) Có đủ sức khỏe để hoàn thành nhiệm vụ được giao; trong độ tuổi đủ để hoàn thành ít nhất một nhiệm kỳ công tác, trừ trường hợp đặc biệt, căn cứ yêu cầu đối ngoại, địa bàn công tác, năng lực, uy tín cá nhân, do Chính phủ quy định.”

6. Sửa đổi, bổ sung khoản 3 Điều 19 như sau:

“3. Người đứng đầu cơ quan đại diện tại Liên hợp quốc là Đại diện thường trực và có chức vụ ngoại giao Đại sứ đặc mệnh toàn quyền. Người đứng đầu cơ quan đại diện tại tổ chức quốc tế khác là Đại diện thường trực, Quan sát viên thường trực hoặc Đại diện của Chủ tịch nước tại tổ chức quốc tế và có chức vụ ngoại giao Đại sứ hoặc Đại sứ đặc mệnh toàn quyền.”

7. Sửa đổi, bổ sung Điều 20 như sau:

Điều 20. Bổ nhiệm, miễn nhiệm, cử, triệu hồi người đứng đầu cơ quan đại diện

1. Ủy ban Thường vụ Quốc hội phê chuẩn đề nghị của Thủ tướng Chính phủ về việc bổ nhiệm, miễn nhiệm người đứng đầu cơ quan đại diện là Đại sứ đặc mệnh toàn quyền.

2. Căn cứ nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chủ tịch nước bổ nhiệm, miễn nhiệm; quyết định cử, triệu hồi người đứng đầu cơ quan đại diện là Đại sứ đặc mệnh toàn quyền.

3. Chủ tịch nước quyết định cử, triệu hồi người đứng đầu cơ quan đại diện là Đại diện của Chủ tịch nước tại tổ chức quốc tế theo đề nghị của Thủ tướng Chính phủ, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này.

4. Bộ trưởng Bộ Ngoại giao quyết định bổ nhiệm, triệu hồi người đứng đầu cơ quan đại diện, trừ trường hợp quy định tại các khoản 1, 2 và 3 Điều này.

5. Người đứng đầu cơ quan đại diện tại một quốc gia, tổ chức quốc tế có thể được cử hoặc bổ nhiệm kiêm nhiệm làm người đứng đầu cơ quan đại diện tại quốc gia, tổ chức quốc tế khác.”

8. Bổ sung khoản 3a vào sau khoản 3 Điều 21 như sau:

“3a. Chịu trách nhiệm tổ chức thực hiện và kiến nghị thực hiện biện pháp cần thiết nhằm bảo vệ bí mật nhà nước, bảo đảm an ninh, an toàn đối với thành viên và trụ sở cơ quan đại diện.”

9. Sửa đổi, bổ sung tên Điều 26; bổ sung điểm d vào khoản 1, bổ sung khoản 3 và khoản 4 vào Điều 26 như sau:

“Điều 26. Chế độ dành cho thành viên cơ quan đại diện, vợ hoặc chồng và con chưa thành niên đi theo thành viên cơ quan đại diện”

“d) Bảo đảm chi phí đi lại trong trường hợp cha, mẹ hoặc cha, mẹ của vợ (chồng) hoặc vợ, chồng, con của thành viên cơ quan đại diện chết.”

“3. Con chưa thành niên đi theo thành viên cơ quan đại diện được hỗ trợ một phần học phí tại quốc gia tiếp nhận và chi phí mua bảo hiểm khám bệnh, chữa bệnh.

4. Chính phủ quy định chi tiết Điều này.”

10. Sửa đổi, bổ sung khoản 6 Điều 32 như sau:

“6. Kiến nghị Thủ tướng Chính phủ trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội phê chuẩn đề nghị bổ nhiệm, miễn nhiệm Đại sứ đặc mệnh toàn quyền; kiến nghị Thủ tướng Chính phủ trình Chủ tịch nước cử và triệu hồi Đại diện của Chủ tịch nước tại tổ chức quốc tế.

Quyết định kéo dài nhiệm kỳ của Đại sứ đặc mệnh toàn quyền trong thời gian không quá 03 tháng; kiến nghị Thủ tướng Chính phủ quyết định kéo dài nhiệm kỳ của Đại sứ đặc mệnh toàn quyền trên 03 tháng trong trường hợp cần thiết do yêu cầu đối ngoại và báo cáo Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chủ tịch nước.”

11. Sửa đổi, bổ sung Điều 34 như sau:

“Điều 34. Phối hợp công tác giữa đoàn được cử đi công tác nước ngoài và cơ quan đại diện

1. Đoàn được cử đi công tác nước ngoài thông báo kịp thời cho cơ quan đại diện về nội dung, chương trình hoạt động tại quốc gia, tổ chức quốc tế tiếp nhận để phối hợp công tác và thông báo kết quả hoạt động cho cơ quan đại diện hoặc Bộ Ngoại giao sau khi kết thúc đợt công tác.

2. Cơ quan đại diện tổng hợp và định kỳ hằng năm báo cáo cơ quan có thẩm quyền về hoạt động của các đoàn quy định tại khoản 1 Điều này.”

Điều 2. Điều khoản thi hành

Luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 7 năm 2018.

Các tin khác
Xem tin theo ngày